ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH CẬN LÂM SÀNG CỦA ÁP XE GAN
Tác giả: ĐẬU XUÂN CẢNH1, PHẠM THỊ THU THỦY
TÓM TẮT
Mở đầu: Áp xe gan là do tổ chức tế bào gan bị phá hủy tạo thành ổ mủ ở gan. Áp xe gan đã được biết từ lâu, những năm 400 trước công nguyên, Hypocrate đã mô tả những tổn thương dạng dịch hóa ở gan [5]. Năm 1890, William Osler lần đầu tiên tìm thấy sự hiện của a míp trong ổ áp xe gan và trong phân của bệnh nhân; tuy vậy phải đến những năm đầu của thế kỷ 20 mới đưa ra kết luận rằng Entamoeba histolytica là nguyên nhân có liên quan đến hình thành áp xe ở gan. Nếu như áp xe gan do a míp vẫn còn thường gặp ở những nước có khí hậu nhiệt đới, điều kiện xã hội, vệ sinh còn thấp thì áp xe gan do vi khuẩn lại là vấn đề đang ngày càng được quan tâm ở các quốc gia phát triển. Tại Đài Loan, tuy số bệnh nhân tử vong do áp xe gan vi khuẩn đã giảm nhưng tỷ lệ mắc bệnh lại tăng lên một cách đáng kể từ 11,15/100.000 dân vào năm 1996 tới 17,59/100.000 dân vào năm 2004. Việc phát hiện sớm dựa và các triệu chứng lâm sàng có thể tăng tỷ lệ điều trị thành công và việc điều trị với sự hỗ trợ của lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh trong hướng dẫn xác định và chọc hút ổ áp xe đang ngày càng trở nên phổ biến với những ưu điểm nhất định. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cận lâm sàng của áp xe gan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân trên 18 tuổi đuợc chẩn đoán xác định là áp xe gan tại khoa Tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2015 đến tháng 10/2016. Kết quả: Tỷ lệ nam giới mắc áp xe gan cao hơn nữ giới (nam/nữ là 1,77). Áp xe gan gặp ở mọi lứa tuổi, tuổi hay gặp nhất là 51-60 tuổi (30,56%). Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là sốt (97%), đau hạ sườn phải (89%). Đặc điểm ổ áp xe: chủ yếu là 1 ổ (91,7%), khu trú nhiều ở thùy phải (86,1%), 100% có kích thước trên 5 cm.
Từ khóa: Áp xe gan.
73
Đầu trang