Nghiên cứu mối liên quan nhân quả và tối ưu hóa quy trình chiết xuất cao từ dược liệu bạch hoa xà thiệt thảo và bán chi liên

Tác giả: DƯƠNG HỒNG TỐ QUYÊN, PHẠM NGỌC THẠC, LÊ THỊ THANH NGA, CHU NGỌC PHƯỢNG, TRẦN THANH NHÃN, CHUNG KHANG KIỆT

TÓM TẮT

Dược liệu bạch hoa xà thiệt thảo (Herba Hedyotis diffusae) phân bố chủ yếu ở Hà Nội, Hải Phòng, Lâm Đồng, Đồng Nai [1]… với gần 171 hợp chất đã được phân lập gồm 32 iridoid, 26 flavonoid, 24 anthraquinon, 26 phenolic và dẫn chất, 50 tinh dầu [3]. Trong đó, iridoid như asperulosid, diffusodid A, B, acid geniposidic, alpigenosid là thành phần chính quan trọng với nhiều tác dụng dược lý như chống ung thư, chống oxy hóa, kháng viêm [7]. Dược liệu bán chi liên (Herba Scutellariae barbatae) phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Việt Nam… [2] với gần 49 hợp chất flavonoid đã được phân lập. Trong đó, scutellarin là flavonoid chính, có hàm lượng cao và thường được sử dụng để kiểm soát chất lượng dược liệu bán chi liên. Ngoài ra, scutellarin còn được nghiên cứu nhiều về tác dụng dược lý như bảo vệ gan, giảm stress oxy hóa, ức hế hoạt động của NF-kappaB và TNF- α [4-6]. Bài thuốc bạch hoa xà thiệt thảo – bán chi liên (2:1) có công dụng chữa viêm gan, xơ gan [2]. Cao chiết là nguyên liệu bán thành phẩm để sản xuất các chế phẩm từ bài thuốc. Các thành phần hóa học có trong dược liệu từ bài thuốc như asperulosid, scutellarin là những chất có tác dụng sinh học. Các chất này được sử dụng làm chất chỉ điểm để kiểm nghệm bài thuốc. Do đó, vấn đề nghiên cứu tối ưu hóa quy trình chiết cao từ bài thuốc là cần thiết, nhằm mục đích thu được cao chiết có hàm lượng chất chỉ điểm cao cũng như hiệu suất chiết tối ưu với chi phí hợp lý. Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin thì máy tính là công cụ hiệu quả trong việc tối ưu hóa quy trình chiết xuất. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu mối liên quan nhân quả và tối ưu hóa quy trình chiết xuất cao từ dược liệu bạch hoa xà thiệt thảo và bán chi liên.

67-2
Đầu trang
Tải