GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ TƯỚI MÁU NÃO TRONG ĐÁNH GIÁ TUẦN HOÀN BÀNG HỆ Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO SAU 6 GIỜ
Tác giả: LÊ VĂN HẢO, NGUYỄN ĐỨC KHANG, NGUYỄN HUY THẮNG, NGHIÊM PHƯƠNG THẢO, TRẦN MINH HOÀNG
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tương quan tỉ lệ giữa tỉ số giảm tưới máu (hypoperfusion intensity ratioHIR) trên cộng hưởng từ (CHT) tưới máu với điểm tuần hoàn bàng hệ trên chụp mạch số hóa xóa nền (Digital Subtraction Angiography-DSA) trước can thiệp nội mạch và kết cục hình ảnh 24 giờ sau can thiệp.
Phương pháp: Nghiên cứu dọc tiến cứu trên 106 bệnh nhân đột quị thiếu máu não (ĐQTMN) cấp sau 6 giờ do tắc đoạn M1 động mạch não giữa (Middle Cerebral Artery -MCA), được điều trị lấy huyết khối nội mạch tại Bệnh viện Nhân dân 115 từ 04/2020 đến 06/2021.
Kết quả: Có 77 bệnh nhân (72,6%) có tuần hoàn bàng hệ tốt. HIR trung bình là 0,30 (95%CI: 0,27 – 0,34). HIR tương quan nghịch mức độ mạnh với điểm bàng hệ – ASITN/SIR (r = – 0.617, p < 0,001). HIR < 0,414 là ngưỡng dự báo tuần hoàn bàng hệ tốt với độ nhạy 84,4%, độ đặc hiệu 72,4%, độ chính xác là 81,1%. Trong các bệnh nhân tái thông mạch máu não thành công, bệnh nhân có HIR thấp có thể tích khối nhồi máu sau cùng nhỏ hơn (20ml so với 44ml, p < 0,001) và thể tích khối nhồi máu tiến triển nhỏ hơn (8ml so với 18ml, p < 0,001) so với bệnh nhân có HIR cao. Trong các bệnh nhân tái thông không thành công, không có sự khác biệt về thể tích khối nhồi máu sau cùng, thể tích khối nhồi máu tiến triển giữa hai nhóm bệnh nhân có HIR thấp và HIR cao. HIR tương quan thuận với mức độ chuyển dạng xuất huyết ở các bệnh nhân tái thông thành công (r = 0,293, p = 0,004). Trong nhóm bệnh nhân tái thông thành công (mTICI 2b, 3) sau can thiệp lấy huyết khối nội mạch, tỉ lệ chuyển dạng xuất huyết ở nhóm có HIR thấp nhỏ hơn so với nhóm có HIR cao (36,4% so với 59,3%; p < 0,05) và tỉ lệ chuyển dạng xuất huyết có triệu chứng ở nhóm có HIR thấp nhỏ hơn so với nhóm có HIR cao (0% so với 14,8%, p < 0,05).
Kết luận: HIR là phương tiện đánh giá tuần hoàn bàng hệ không xâm lấn, định lượng, không phụ thuộc vào người đọc kết quả như đáng giá bàng hệ bằng CTA và hơn nữa nó được kết hợp tính tự động trong khi chụp hình ảnh học tưới máu não. Cần áp dụng HIR trong thực hành lâm sàng để phân tầng bệnh nhân phù hợp, giúp tiên lượng sau điều trị can thiệp nội mạch lấy huyết khối nội mạch trong cửa sổ mở rộng.
Từ khóa: Đột quỵ thiếu máu não cấp, tuần hoàn bàng hệ, cộng hưởng từ tưới máu não, tỉ số giảm tưới máu, thể tích nhồi máu sau 24 giờ, chuyển dạng xuất huyết.

Đầu trang