Đánh giá hoạt tính của chế phẩm quercetin tách từ nụ hoa hòe (Sophora japonica) và lá sen (Nelumbo nucifera)

Tác giả: Lê Huy Hoàng, Phạm Thị Phượng, Bùi Thị Vân Khánh, Hồ Bá Do, Nguyễn Quang Huy

TÓM TẮT

Tên tiếng Việt: Đánh giá hoạt tính của chế phẩm quercetin tách từ nụ hoa hòe (Sophora japonica) và lá sen (Nelumbo nucifera)

Tên tiếng Anh: Biological evaluation of the standardized quercetin extracts from the Flos Sopharae immaturus (of Sophora japonica L.) and the lotus leaves (of Nelumbo nucifera Gaertn.,)

Lĩnh vực: Nghiên cứu – Kỹ thuật

Từ khóa: Anticancer; Antioxidant; Quercetin; HPLC; Standardized extract; hoạt tính; chế phẩm; nụ hoa hòe;

Tóm tắt tiếng Việt:

Quercetin có hoạt tính sinh học đa dạng như tác dụng chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn, kháng vi rút, kháng ung thư và điều hòa miễn dịch. Ở Cananda, Mỹ, Nhật Bản, quercetin được dùng để sản xuất các sản phẩm bảo vệ sức khỏe. Quercetin được thu nhận chủ yếu từ dịch chiết thực vật như nụ hoa hòe, hành tây, lá sen, lá chùm ngây, … và thủy phân từ rutin. Trong nghiên cứu trước về khảo sát một số loài thực vật cho thấy hàm lượng quercetin từ nụ hoa hoè và lá sen cho kết quả cao nhất. Bài báo này trình bày các kết quả đánh giá hoạt tính chống oxi hóa, kháng khuẩn và kháng tế bào ung thư của chế phẩm chứa quercetin từ nụ hoa hoè và lá sen.

            Nguyên liệu: Nụ hoa hòe (Sophora japonica) thu ở Thái Bình, lá sen (Nelumbo nucifera) thu ở Bắc Ninh.

         – Các chế phẩm quercetin được thu nhận trong nghiên cứu của Lê Huy Hoàng và CS. Chế phẩm là sản phẩm thủy phân dịch chiết toàn phần từ nụ hoa hòe (chế phẩm Q1), từ lá sen (chế phẩm Q3) và từ rutin của hoa hòe (chế phẩm Q2).

Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp phân tích bằng HPLC.

– Phương pháp xác định khả năng quét gốc tự do DPPH.

– Xác định năng lực khử.

– Xác định hoạt tính kháng khuẩn và kháng tế bào ung thư.

– Xử lý số liệu: Kết quả được xử lý trên phần mềm Micosoft Exel 2010 và phần mềm SPSS 20, sử dụng phép thử LSD (p < 0,05) hoặc Games- Howell (p < 0,05).

Kết luận

– Đã thu nhận được chế phẩm chứa quercetin bằng phương pháp thủy phân từ dịch chiết nụ hoa hòe, lá sen và rutin. Trong đó chế phẩm thủy phân từ rutin có hàm lượng quercetin cao nhất là 90,02% cao hơn thủy phân từ dịch chiết toàn phần nụ hoa hòe (59,19%) và lá sen (10,8%).

– Đã xác định được nồng độ các chế phẩm Q1, Q2 và Q3 cần thiết để giảm 50% gốc tự do DPPH 0,1mM là 13,62 µg/ml, 16,35 µg/ml và 23,09 µg/ml.  Giá trị IC50 với tế bào ung thư HCT116 của chế phẩm Q1, Q2 tương ứng là 18,79 và 19,53 µg/ml; còn chế phẩm Q3 không có hoạt tính.

Tóm tắt tiếng Anh

By ultrasound-assisted acid hydrolysis, the standardized extracts of quercetin were obtained from the total extracts (Q1), rutin (Q2) of Flos Sophorae immaturus and from the total lotus leaf extracts (Q3). The quercetin content  of these extracts, Q1, Q2, and Q3, (%) were 90.02; 59.19 and 10.8, respectively. In methanol solution, these extracts  exhibited antimicrobial effects stronger than in dimethyl sulfoxide solution. Besides, Q1, Q2 showed similar activity and realy higher than that of Q3. Experimentally, the antioxidant activity of Q1 achieved the IC50 value of DPPH free radical scavenging capacity being 13.62, higher than that of Q2 (16.35) and Q3 (23.09). In reducing power (Abs1), Q3 (69.13) was stronger than Q2 (45.79) and Q1 (38.59). Vit. C (30.46) and the standard quercetin preparations (33.56). The antitumor activity against human colon cancer (HCT-116) cells, the IC50 value of Q1 (18.79) was higher than that of the standardized quercetin preparations.