TÌM HIỂU MỐI LIÊN QUAN GIỮA YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG, NGHỀ NGHIỆP VỚI BỆNH LÝ DẠ DÀY TÁ TRÀNG

Tác giả: PHẠM THỊ THU THỦY, ĐẬU XUÂN CẢNH, NGUYỄN THỊ BẠCH TUYẾT

TÓM TẮT

Mục tiêu: Viêm loét dạ dày tá tràng là bệnh phổ biến trên thế giới và Việt nam, gây nhiều phiền toái, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Liệu môi trường sống và nghề nghiệp có liên quan đến bệnh lý dạ dày tá tràng hay không. Để góp phần tìm hiểu thêm vấn đề trên, chúng tôi tiến hành đề tài nhằm mục đích: Tìm hiểu tỷ lệ mắc bệnh dạ dày tá tràng qua yếu tố nghề nghiệp và môi trường. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu 200 bệnh nhân có nghề nghiệp là nông dân, cán bộ, công nhân, kinh doanh, nghề tự do, sống ở nông thôn, ngoại thành và thành phố thuộc Hà Nội. Kết quả: Nhóm làm nghề nông có tỷ lệ VDDTT cao nhất (39,4%-39,6%). Nhóm cán bộ là 25,5%-27%. Nhóm công nhân và kinh doanh 12,5%-1 6,7%. Chúng tôi gặp 43/58 bệnh nhân (74,1%) bị loét dạ dày và 15/58 bệnh nhân (25,9%) bị loét tá tràng. Nhóm bị bệnh cao nhất là nông dân (41 ,4%). Loét dạ dày luôn có tỷ lệ cao hơn loét tá tràng ở trong các nhóm nông dân, công nhân, cán bộ. Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P>0,05. Tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm người làm việc ở thành phố là 31% (62/200 bệnh nhân) và ngoại thành là 7,5% (l5/200 bệnh nhân). Sự khác nhau giữa nhóm làm việc ở nông thôn với ngoại thành và thành phố có ý nghĩa thống kê với P <0,001. Giữa nhóm làm việc ở thành phố và ngoại thành khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Sống ở nông thôn có tỷ lệ viêm (55,7%) và loét (50,0%) cao hơn nhóm sống ở thành phố và ngoại thành. Kết luận: Nhóm làm nghề nông có tỷ lệ viêm dạ dày 39,4%, viêm tá tràng 39,6%, loét dạ dày 44,1%, loét tá tràng 33,3%, cao hơn nhóm cán bộ, công nhân và kinh doanh (P<0,05). Sống ở nông thôn có tỷ lệ viêm (55,7%) và loét (50,0%) cao hơn nhóm sống ở thành phố và ngoại thành (tuy nhiên trong viêm P<,05; trong loét P>0,05).

Từ khóa: Dạ dày tá tràng, loét dạ dày, loét tá tràng.