CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN THANH THIẾU NIÊU SAU MỔ CHỈNH VẸO CỘT SỐNG LỐI SAU

Tác giả: BÙI MINH HOÀNG, NGUYỄN HOÀNG LONG, VŨ VĂN CƯỜNG

TÓM TẮT

Mục tiêu: Vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên gây ra những ảnh hưởng cả về thể chất và tinh thần của bệnh nhân, từ đó làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá hiệu quả của phẫu thuật chỉnh vẹo lối sau đến chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên, sử dụng bộ câu hỏi SRS – 22r.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu, theo dõi dọc trên các bệnh nhân vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên được phẫu thuật chỉnh vẹo lối sau. Bệnh nhân được theo dõi sau mổ ít nhất 2 năm. Góc Cobb trước và sau mổ được đo trên phim X – quang, qua đó tính được tỷ lệ nắn chỉnh của đường cong chính. Trước mổ và ở lần theo dõi cuối, bệnh nhân được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi SRS – 22r. Sự cải thiện các phương diện của SRS trước và sau mổ được so sánh với tiêu chuẩn chênh lệch tối thiểu có thể phát hiện (Minimum detectable measurement difference – MDMD) dành cho bộ câu hỏi SRS – 22r. Bên cạnh đó, chúng tôi đánh giá mối liên quan giữa tỷ lệ nắn chỉnh, góc Cobb sau mổ với các thành phần của thang điểm SRS – 22r.

Kết quả: Nghiên cứu trên 33 bệnh nhân với thời gian theo dõi 38,3 ± 1,5 tháng (dao động từ 35 – 42 tháng). Trung bình góc Cobb trước mổ và sau mổ lần lượt là 55,52 ± 12,44° và 11,39 ± 10,22°, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Tỷ lệ nắn chỉnh là 79,56 ± 16,25%. Tổng điểm SRS trước mổ là 3,42 ± 0,40, sau mổ là 4,19 ± 0,40, điểm SRS của phương diện ngoại hình, sức khoẻ tinh thần, sự hài lòng và tổng điểm cải thiện có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), trong khi phương diện triệu chứng đau và chức năng thay đổi không có ý nghĩa thống kê. So sánh với ngưỡng tiêu chuẩn MDMD (ngoại hình: 0,3; chức năng 0,24; đau 0,3) thì thay đổi của ngoại hình (1,18 ± 0,89) và chức năng (0,28 ± 0,80 ) có ý nghĩa lâm sàng. Sự hài lòng có liên quan đến ngoại hình và sức khoẻ tinh thần (lần lượt với rho = 0,665, p < 0,001; r = 0,353, p = 0,044). Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ nắn chỉnh, góc Cobb sau mổ với tổng điểm SRS cũng như các phương diện của SRS.

Kết luận: Phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống lối sau ở bệnh nhân vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân về ngoại hình, sự hài lòng, sức khoẻ tinh thần và chức năng vận động, trong khi triệu chứng đau cải thiện không có ý nghĩa. Trong các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống thì ngoại hình là yếu tố quyết định nhất đến sự hài lòng với kết quả điều trị của người bệnh. Không thấy sự tương quan giữa tỷ lệ nắn chỉnh và góc Cobb sau mổ với tổng điểm SRS cũng như từng phương diện của nó.

Từ khoá: Vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên, SRS – 22r, sự hài lòng, chất lượng cuộc sống.

43
Đầu trang
Tải