ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN COPD ĐỢT CẤP CÓ VÀ KHÔNG CÓ VIÊM PHỔI TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Tác giả: LƯƠNG THỊ KIỀU DIỄM, PHẠM KIM LIÊN
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp có viêm phổi (pECOPD) và không có viêm phổi (npECOPD) tại Bệnh viện Trung ương (BVTW) Thái Nguyên năm 2020-2021.
Đối tượng nghiên cứu: 139 bệnh nhân được chẩn đoán ECOPD điều trị tại khoa Hô hấp BVTW Thái Nguyên. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân npECOPD chiếm 61,2%, pECOPD chiếm 38,8%. Gặp ở nam (89,9%) cao hơn nữ (10,1%). Tuổi trung bình 71,75 ± 9,64 chủ yếu gặp ở bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên. Tỷ lệ bệnh nhân điều trị thường xuyên tại nhà và có trên 2 đợt cấp trở lên đối với pECOPD chiếm tỷ lệ cao hơn npECOPD. Triệu chứng sốt gặp ở nhóm bệnh nhân pECOPD (64,8%) cao hơn npECOPD (8,2%). Kết quả chụp X quang phổi cho thấy pECOPD gặp chủ yếu hình ảnh phế quản hơi, hình mờ, đám mờ; nhóm npECOPD chỉ gặp các tổn thương giãn phế quản, phế nang; phổi tăng sáng; vòm hoành thấp. Giá trị bạch cầu và CRP trung bình ở pECOPD cao hơn npECOPD. Thời gian nằm viện trung bình là 8,68 ± 3,66; thời gian nằm viện từ 7-10 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất (56,1%), nằm viện dưới 7 ngày chiếm 23,4%, thời gian nằm viện từ 10 ngày trở lên chiếm tỷ lệ 20,2%. Thuốc điều trị ở cả 2 nhóm bệnh nhân cho thấy tỷ lệ bệnh nhân pECOPD được dùng 2 loại kháng sinh cao hơn so với nhóm npECOPD (tương ứng 63,0% và 23,7%). Kết quả điều trị tốt ở nhóm npECOPD (89,4%) cao hơn nhóm pECOPD (72,2%). Kết quả điều trị chưa tốt ở nhóm npCOPD (10,6%) thấp hơn nhóm pECOPD (28,7%).
Từ khóa: COPD đợt cấp, viêm phổi, hút thuốc lá.
120
Đầu trang