ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TIÊM BEVACIZUMAB DƯỚI KẾT MẠC SAU PHẪU THUẬT CẮT BÈ CỦNG GIÁC MẠC

Tác giả: PHẠM THỊ LIỀN, VŨ ANH TUẤN, MAI THỊ ANH THƯ, LƯU THỊ THIỀU HOA, VŨ HẢI HÀ

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả tiêm Bevacizumab (BEV) dưới kết mạc sau phẫu thuật cắt bè củng – giác mạc.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng được tiến hành trên 46 mắt của 40 bệnh nhân (BN) trên 40 tuổi được chẩn đoán glôcôm nguyên phát và có chỉ định phẫu thuật cắt bè. Bệnh nhân được phân chia ngẫu nhiên thành hai nhóm. Nhóm I gồm 23 mắt phẫu thuật cắt bè có tiêm Bevacizumab (2,5 mg/0,1 ml) dưới kết mạc và nhóm II gồm 23 mắt phẫu thuật cắt bè đơn thuần. BN được theo dõi 1 ngày, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau mổ.

Kết quả: Thị lực logMAR trung bình ở nhóm I tăng từ 0,76 ± 0,71 trước mổ lên 0,46 ± 0,62 tại thời điểm cuối theo dõi sau mổ. Nhóm II, thị lực logMAR trung bình tăng từ 0,97 ± 0,93 trước mổ lên 0,83 ± 1,01 thời điểm cuối theo dõi sau mổ (tương ứng, p < 0,05 và p > 0,05). Nhãn áp trung bình trước mổ ở nhóm I là 39,17 ± 5,68 mmHg và 42,65 ± 7,58 mmHg ở nhóm II (p > 0,05). Thời điểm cuối theo dõi sau mổ, nhãn áp trung bình ở nhóm I là 14,96 ± 1,79 mmHg và 19,87 ± 6,81 mmHg ở nhóm II (p < 0,001). Tỷ lệ điều chỉnh nhãn áp hoàn toàn ở nhóm I là 95,7% và 69,6% ở nhóm II tại thời điểm cuối theo dõi (p < 0,05). Tỷ lệ sẹo bọng có chức năng ở nhóm I là 100% và 69,6% ở nhóm II tại thời điểm cuối theo dõi (p < 0,05). Nhóm I gặp ít biến chứng và can thiệp số thuốc hạ nhãn áp sau mổ thấp hơn nhóm II. Thời điểm cuối theo dõi, nhóm I không ghi nhận trường hợp nào phải dùng thuốc hạ nhãn áp và số thuốc hạ nhãn áp trung bình sau mổ ở nhóm II là 0,52 ± 0,84 (p < 0,05). Hiệu quả điều trị tốt ở nhóm I là 95,7% và 69,6% ở nhóm II tại thời điểm cuối theo dõi (p < 0,05).

Kết luận: Tiêm Bevacizumab (2,5 mg/0,1 ml) dưới kết mạc sau phẫu thuật cắt bè có hiệu quả điều trị cao và an toàn cho những bệnh nhân glôcôm.

Từ khoá: Bevacizumab, cắt bè, glôcôm.

131
Đầu trang
Tải