ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ ACID URIC MÁU, CHỨC NĂNG THẬN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ KHÁC SAU 3 THÁNG ĐIỀU TRỊ FEBUXOSTAT (FEBURIC) Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN TÍNH

Tác giả: ĐOÀN DIỆU HUYỀN1, NGUYỄN THỊ HƯƠNG2, ĐỖ GIA TUYỂN3

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi nồng độ acid uric máu, chức năng thận và một số yếu tố khác sau 3 tháng điều trị Febuxosat (Feburic) ở bệnh nhân bệnh thận mạn.

Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 60 bệnh nhân >16 tuổi chẩn đoán bệnh thận mạn tính tại Khoa Khám bệnh Yêu cầu, Bệnh viện Bạch Mai từ 10/2019 đến 7/2020 với mức lọc cầu thận >30ml/ph có tăng acid uric > 420 µmol/l.

Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ là 4/1 trong đó nam chiếm 80% nữ chiếm 20%. Độ tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 52,60 ± 13,511. Nguyên nhân chính của bệnh thận mạn tính là viêm cầu thận mạn chiếm tỷ lệ 70%, sau đó là THA (16,7%), gút (6,7%), ĐTĐ (5%). Nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn tính có mức lọc cầu thận >30ml/phút tăng acid uric máu thì chủ yếu ở bệnh thận mạn tính giai đoạn 3 (chiếm 95%), giai đoạn 2 chỉ có tỷ lệ 5% và không có bệnh nhân nào ở giai đoạn 1. Sau 3 tháng điều trị hạ acid uric máu bằng Febuxostat (Feburic), chỉ số acid uric máu hạ có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 (trước điều trị 537,18 ± 68,493 và sau điều trị 412,72 ± 111,804). Mức lọc cầu thận sau điều trị tăng lên có ý nghĩa thống kê với p = 0,002 (trước điều trị 41,23 ± 8,775 sau điều trị 43,33 ± 9,654). Các chỉ số hồng cầu, bạch cầu hemoglobin, glucose, GOT, GPT, triglycerid có thay đổi nhưng không đáng kể với p > 0,05. Trong khi đó chỉ số cholesterol giảm xuống có ý nghĩa thống kê với p = 0,003. Chỉ số protein niệu giảm sau 3 tháng điều trị với p = 0,009.

Kết luận: Febuxostat (Feburic) có tác dụng hạ AU tốt sau 3 tháng điều trị. Bên cạnh đó, chức năng thận được cải thiện biểu hiện bằng sự tăng lên về mức lọc cầu thận và protein niệu giảm. Sau 3 tháng điệu trị không thấy bệnh nhân nào có tác dụng không mong muốn.

Từ khóa: Bệnh thận mạn tính, mức lọc cầu thận, acid uric máu.

108.113
Đầu trang
Tải