ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG DỰ PHÒNG BUỒN NÔN VÀ NÔN CỦA DEXAMETHASON KẾT HỢP ONDANSETRON SAU CẮT A-MI-ĐAN Ở TRẺ EM
Tác giả: LÊ NGỌC BÌNH1, NGUYỄN VĂN MINH2
TÓM TẮT
Mục tiêu: So sánh hiệu quả dự phòng buồn nôn và nôn sau phẫu thuật (BNNSPT) của dexamethason kết hợp ondansetron với ondansetron đơn thuần ở trẻ em cắt a-mi-đan và khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của liệu pháp dự phòng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Trong một nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên 225 trẻ có chỉ định phẫu thuật cắt a-mi-đan được phân ngẫu nhiên vào 2 nhóm. Nhóm DO nhận 0,15 mg/kg dexamethason sau khi khởi mê và 0,1 mg/kg ondansetron tĩnh mạch lúc kết thúc phẫu thuật. Nhóm ON nhận 0,1 mg/kg ondansetron lúc kết thúc phẫu thuật. Ghi nhận tỉ lệ BNNSPT và tác dụng không mong muốn trong 24 giờ đầu, khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của liệu pháp dự phòng.
Kết quả: Tỉ lệ BNNSPT trong 24 giờ đầu ở nhóm DO là 17,4%, thấp hơn so với nhóm ON là 38,5% (p < 0,05). Tỉ lệ BNNSPT ở phân nhóm nguy cơ cao và rất cao của nhóm DO thấp hơn so với nhóm ON lần lượt là 7,2% so với 25,0% và 38,9% so với 77,4%. Kết hợp dexamethason và ondansetron làm giảm nguy cơ tuyệt đối BNNSPT 21,1% so với ondansetron đơn thuần. Số cần điều trị là 5. Tỉ lệ các tác dụng không mong muốn là 4,6%. Các yếu tố tiền sử nôn sau phẫu thuật và/hoặc BNNSPT của người thân cận, thời gian phẫu thuật từ 50 phút trở lên và sử dụng morphin sau phẫu thuật làm tăng nguy cơ thất bại (p < 0,05) của liệu pháp dự phòng.
Kết luận: Dexamethason kết hợp với ondansetron có hiệu quả dự phòng BNNSPT cắt a-mi-đan ở trẻ em cao hơn ondansetron đơn thuần. Tiền sử nôn sau phẫu thuật và/hoặc BNNSPT của người thân cận, thời gian phẫu thuật từ 50 phút trở lên và sử dụng morphin sau phẫu thuật liên quan đến thất bại của liệu pháp dự phòng.
Từ khoá: Buồn nôn, nôn sau phẫu thuật, cắt ami-đan, trẻ em, dexamethason, ondansetron.
62
Đầu trang