Định lượng đồng thời sulfamethoxazol và trimethoprim trong chế phẩm bằng các phép biến đổi đạo hàm và wavelet phổ tử ngoại tỉ đối
Tác giả: VŨ TÙNG LÂM, LÃ PHƯƠNG THẢO, NGUYỄN NGỌC THỤY, LƯU THỊ NGỌC HÂN, VŨ ĐẶNG HOÀNG
TÓM TẮT
Cotrimoxazol là hỗn hợp kháng sinh phổ rộng bao gồm sulfamethoxazol (5 phần) và trimethoprim (1 phần). Sulfamethoxazol là một sulfonamid có cấu trúc tương tự acid para aminobenzoic, ức chế giai đoạn I – quá trình tổng hợp acid dihydrofolic của vi khuẩn nhờ có ái lực cao với dihydrofolat synthetase. Trimethoprim là một dẫn chất của pyrimidin, ức chế giai đoạn II của quá trình tổng hợp acid folic của vi khuẩn do khả năng gắn cạnh tranh và ức chế đặc hiệu dihydrofolat reductase (là enzym xúc tác cho phản ứng chuyển acid dihydrofolic thành acid tetrahydrofolic). Cotrimoxazol không những diệt khuẩn nhờ sự ức chế nối tiếp của sulfamethoxazol và trimethoprim mà còn hiệp đồng chống lại các vi khuẩn đã kháng từng thành phần của thuốc.
Theo quy định của các Dược điển, kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [1] hoặc kết hợp đo quang và chuẩn độ nitrit sau khi đã tách chiết riêng từng thành phần [6] có thể được sử dụng để định lượng đồng thời sulfamethoxazol và trimethoprim trong viên nén Cotrimoxazol. Năm 2003, nhóm tác giả Nguyễn Tường Vy và Đỗ Ngọc Thanh đã sử dụng kỹ thuật phổ đạo hàm tỷ đối để định lượng đồng thời sulphamethoxazol và trimethoprim trong viên nén Traseppton [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã không nêu rõ các thông số xử lý phổ (làm trơn, thuật toán lấy đạo hàm) cũng như không trình bày đầy đủ hình dạng phổ đồ.
Trên thế giới, định lượng đồng thời sulfamethoxazol và trimethoprim trong viên nén đã được nghiên cứu nhiều bằng quang phổ tử ngoại kết hợp với biến đổi đạo hàm hoặc toán hóa (chemometrics). Đặc biệt, Dinç và CS đã chứng minh phép biến đổi wavelet (hàm bior2.4, coif2, db và haar) có độ nhạy cao hơn phép biến đổi đạo hàm phổ tử ngoại khi định lượng hỗn hợp sulfamethoxazol và trimethoprim [7].
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đề xuất phép định lượng đồng thời sulfamethoxazol và trimethoprim trong hỗn hợp, dựa trên biến đổi đạo hàm và wavelet phổ tử ngoại tỉ đối. Tính khả thi của các phương pháp quang phổ xây dựng được đánh giá qua phép định lượng hai hoạt chất này trong một số chế phẩm hiện đang lưu hành trên thị trường và phép thử độ hòa tan với dạng viên nén và viên nang.
39
Đầu trang