Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ trong việc tuân thủ điều trị đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hà, Nguyễn Tuấn Dũng, Nguyễn Thanh Tâm, Nguyễn Xuân Bình
TÓM TẮT
Tên tiếng Việt: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ trong việc tuân thủ điều trị đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai
Tên tiếng Anh: Investigation on the treament of type 2 diabetes melilitus in Dong Nai General Hospital in respect of therapy, impact of pharmacist-directed counseling on medication adherence and clinical outcomes
Lĩnh vực: Nghiên cứu – Kỹ thuật
Từ khóa: Type 2 diabetes mellitus (T2DM); medication adherence; patient counseling; can thiệp; tuân thủ điều trị; đái tháo đường; Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai;
Tóm tắt tiếng Việt:
Theo Liên đoàn đái tháo đường (ĐTĐ) thế giới, năm 2017, có 82 triệu người mắc ĐTĐ ở khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam có hơn 3,5 triệu người, chiếm hơn 5% dân số. Phần lớn bệnh nhân ĐTĐ type 2 khó kiểm soát được mức đường huyết mục tiêu bằng thay đổi chế độ dinh dưỡng hay tập luyện mà cần phải sử dụng thuốc, tuy nhiên do tiến triển của bệnh và các bệnh kèm nên chế độ dùng thuốc của BN khá phức tạp, dẫn đến việc khó tuân thủ điều trị. Vai trò của dược sĩ trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ngày càng quan trọng khi lấy chăm sóc người bệnh làm trung tâm, đặc biệt trong sự tuân thủ điều trị và các hoạt động tự chăm sóc của BN mắc bệnh mạn tính. Một phân tích gộp của 44 nghiên cứu vào năm 2014 đã đánh giá hiệu quả việc áp dụng mô hình quản lý thuốc điều trị đối với các bệnh mạn tính cho thấy việc cải thiện về tình hình kê đơn thuốc, sử dụng thuốc và tuân thủ điều trị. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai đang điều trị một lượng lớn BN ĐTĐ type 2 ngoại trú, vì vậy để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, sự tuân thủ điều trị cũng như kiến thức của BN về bệnh ĐTĐ, thực hiện đề tài này với ba mục tiêu sau: (1) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ type 2, (2) Đánh giá hiệu quả của can thiệp của dược sĩ, (3) So sánh các kết quả lâm sàng, sự tuân thủ điều trị và kiến thức về bệnh ĐTĐ cũng như các hoạt động tự chăm sóc bệnh của BN ĐTĐ type 2.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
– Giai đoạn 1: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc
+ Đối tượng nghiên cứu: Đơn thuốc của BN ĐTĐ type 2 ngoại trú khám tại Phòng khám T105 và T106, Khoa Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai trong thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 28/02/2018.
Hồi cứu và chọn tất cả đơn thuốc của BN. Từ đơn thuốc, ghi nhận các thông tin của BN theo mẫu thu thập thông tin, bao gồm: đặc điểm chung của BN, đặc điểm kê đơn và sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ typ 2.
– Giai đoạn 2: Đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ
+ Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân điều trị ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai trong thời gian từ 01/02/2018 đến 30/04/2018. Bệnh nhân được phân bố ngẫu nhiên thành nhóm không can thiệp (KCT): chỉ nhận được thăm khám của bác sĩ và nhóm can thiệp (CT): nhận được tư vấn của dược sĩ sau khi khám bệnh.
Phương pháp nghiên cứu
– Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng.
– Công cụ nghiên cứu: Bảng câu hỏi gồm: 10 câu về thông tin chung của BN, đánh giá sự tuân thủ điều trị của BN (MMAS-8), đánh giá kiến thức BN (DKQ-24), các hoạt động tự chăm sóc của BN (SDSCA).
Phân tích số liệu: Dùng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để phân tích dữ liệu, thống kê khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05, độ tin cậy 95%.
Kết luận
Với sự nỗ lực hợp tác giữa dược sĩ và bệnh nhân thông qua mô hình quản lý thuốc điều trị như đã được mô tả trong nghiên cứu này, kết quả cho thấy có sự tác động tích cực lên sự tuân thủ điều trị, kiến thức về bệnh cũng như các hoạt động tự chăm sóc bệnh của BN.
Tóm tắt tiếng Anh
From 01/2018 to 02/2018, 1229 prescriptions were delivered. In mono therapy, the mostly indicated was metformin (17.01%), and in dual therapy, combination of metformin and SU (29.62%). Next, after 3 months of intervention (02/2018 to 04/2018), beside 43 patients of non-intervention group (NIG), the studied involved 44 patients of the intervention group (IG). The mean difference in medication adherence from baseline to second follow-up visit was significantly greater in IG (6.8 ± 0.4 score) than in NIG (6.2 ± 0.7 score) (P < 0.001). From baseline to second follow-up visit, FPG (9.92 ± 3.59; 7.51 ± 1.50 mmol/l), SBP (120.5 ± 14.3; 118.4 ± 15,5 mm Hg) levels were significantly reduced in IG compared to that in NIG (P < 0.05). No significant improvement was observed in DBP and BMI levels. Disease knowledge scores and self-care activities scores in IG were statistically higher than in NIG (21.2 ± 1.2 vs 17.1 ± 1.7; respectively, P < 0.01). This confirmed the positive effect of pharmacist’s education intervention in increasing patient’s control of T2DM.
