NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN HẠCH CỔ DI CĂN TỪ UNG THƯ VÒM HỌNG
Tác giả: LÂM ĐÔNG PHONG1, HOÀNG ĐỨC KIỆT2, TRẦN THANH PHƯƠNG3
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh và khảo sát giá trị của cộng hưởng từ (CHT) trong chẩn đoán hạch cổ di căn từ ung thư vòm họng (UTVH).
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 35 trường hợp UTVH xác chẩn bằng mô bệnh học, chưa điều trị, được chụp CHT 1,5 Tesla từ tháng 02/2018 đến tháng 5/2020. Phân loại giai đoạn N (Node) của hạch cổ di căn từ UTVH trên CHT dựa theo phân loại của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) ấn bản lần thứ 8.
Kết quả: UTVH thường di căn hạch cổ (94,3%). Phần lớn bệnh nhân (87,9%) có hạch cổ di căn từ hai nhóm trở lên. Hạch nhóm II gặp nhiều nhất (84,8%). Đường kính trục ngắn trung bình hạch cổ 13,79 mm. Hạch cổ di căn từ ung thư vòm họng thường gặp giai đoạn N2 (45,7%) và N1 (40%). Hạch cổ ngấm thuốc đối quang từ trên T1CE (100%) và hạn chế khuếch tán trên DWI (100%). Độ nhạy của từng chuỗi xung T1W, T2W, T2FS, T1CE và DWI trong tất cả ba giai đoạn N (N1- N3) lần lượt là 84,8%, 93,9%, 93,9%, 100% và 100%. Độ nhạy của năm chuỗi xung ứng với mỗi giai đoạn N1, N2 và N3 lần lượt là 94,3%, 92,5% và 100%. Giá trị ADC trung bình hạch cổ 0,776×10-3 mm2/giây. Giá trị ADC trung bình của hạch cổ có đường kính trục ngắn >10mm 0,8163×10-3 mm2/giây, giá trị ADC trung bình của hạch cổ có đường kính trục ngắn <10mm 1,035×10-3 mm2/giây. Sự khác biệt giữa giá trị ADC trung bình của hai nhóm hạch này không có ý nghĩa thống kê.
Kết luận: CHT có giá trị cao trong chẩn đoán hạch cổ di căn từ UTVH (giai đoạn N theo phân loại TNM). CHT xác định chính xác vị trí và tính chất hạch cổ nông và sâu. CHT khuếch tán cho thấy hạch cổ di căn có hạn chế khuếch tán và cung cấp tham số định lượng giúp chẩn đoán bản chất ác tính hạch vùng cổ.
Từ khóa: Cộng hưởng từ, ung thư vòm họng, hạch cổ.
bai-6-24-28
Đầu trang