Ứng dụng phép đo lưu biến trong đánh giá độ ổn định vật lý của kem bôi da

Tác giả: TRẦN HỮU HƯNG, LẠI VĂN ĐÔNG, NGUYỄN THỊ MINH HUỆ, VŨ ĐẶNG HOÀNG

TÓM TẮT

Trên thế giới, nghiên cứu đầu tiên về đặc tính lưu biến của kem bôi da được Neuwald thực hiện vào năm 1966 với máy đo độ nhớt Brookfield Synchro – Lectric có trang bị trục quay hình chữ T. Năm 1975, Barry đã trình bày tổng quan về đặc tính nhớt đàn hồi của nhũ tương đặc bao gồm: (i) – Bản chất (các mô hình Maxwell và Voigt (Kelvin) biểu diễn tính nhớt đàn hồi), (ii) – Các phép đo (dão, động, chuyển đổi dữ liệu từ phép đo dão (creep) sang phép đo động (dynamic)), và (iii) – Các yếu tố ảnh hưởng đến tính nhớt đàn hồi của nhũ tương dầu trong nước. Cũng trong thập niên 1960 – 1980, nhóm nghiên cứu của Barry và Eccleston đã tiến hành một loạt các nghiên cứu về tính chất lưu biến của nhũ tương paraffin lỏng trong nước và/hoặc hệ ba thành phần chất diện hoạt/alcol béo/nước tương ứng được bào chế từ hỗn hợp chất nhũ hóa cetrimid – cetostearyl alcol, cetrimid và hỗn hợp cetyl – stearyl alcol, natri lauryl sulfat – alcol cetyl, natri lauryl sulfat và hỗn hợp alcol béo có số chẵn carbon C10 – C18, cetrimid hoặc cetomacrogol và cetostearyl alcol, alkyltrimethylammonium bromid – cetostearyl alcol, cetomacrogol và alcol béo (cetostearyl, cetyl, stearyl, myristyl), cetostearyl alcol – natri lauryl sulfat hoặc cetrimid hoặc cetomacrogol, polyethylen glycol 1000 monostearat – alcol béo (cetostearyl, cetyl, stearyl, myristyl). Một số kết luận chính có thể rút ra từ các nghiên cứu này như sau: (i) – Tính chất lưu biến của hệ phụ thuộc chủ yếu vào mạng gel nhớt đàn hồi được hình thành trong pha liên tục, (ii) – Tất cả các hệ đều có đặc tính chảy phức tạp (đường cong chảy đều có dạng vòng trễ (hysteresis loop) chứng tỏ không thể hồi phục được cấu trúc bị phá hủy dưới tác động của lực trượt), (iii) – Độ nhớt của hệ tăng khi nồng độ chất nhũ hóa tăng, (iv) – Khác nhau về quá trình hình thành cấu trúc giữa hệ có chứa chất diện hoạt ion (chủ yếu do tương tác ở nhiệt độ cao trong quá trình bào chế, phần lớn cấu trúc được hình thành trong 2 giờ ngay sau khi bào chế) với hệ có chứa chất diện hoạt không ion (cấu trúc thay đổi nhiều trong ngày đầu tiên sau bào chế và dần ổn định ở nhiệt độ bảo quản), (v) – Thành phần hỗn hợp alcol béo và độ dài mạch carbon của chất nhũ hóa có ảnh hưởng rõ rệt đến đặc điểm cấu trúc và lưu biến của hệ.

4-6
Đầu trang
Tải