UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ – LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

Tác giả: NGUYỄN VIỆT HÀ, NGUYỄN TUYẾT MAI

TÓM TẮT

Mở đầu: Ung thư phổi có tiên lượng xấu. Hơn một nửa số người mắc ung thư phổi giai đoạn cuối tử vong trong vòng một năm sau khi được chẩn đoán. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 17,8%. Ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm 85%, gấp 5,7 lần so với ung thư phổi tế bào nhỏ, mặc dù cả hai đều có mức phân bố ngẫu nhiên trên các đối tượng được phát hiện và đều được xem là hai loại chính của ung thư phổi. Nhóm triệu chứng lâm sàng điển hình bao gồm các triệu chứng phát triển tại chỗ của khối u, các hội chứng cận ung thư, triệu chứng di căn và một số biểu hiện toàn thân.

Đối tượng và phương pháp: 94 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ được chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn IASLC 2009 (IIIB, IV) và giải phẫu bệnh chấp thuận tham gia nghiên cứu được khám lâm sàng, cận lâm sàng theo một mẫu bệnh án thống nhất. Bệnh nhân được thu thập các thông tin về nhân khẩu học, triệu chứng bệnh và đặc điểm khối u theo phương pháp mô tả cắt ngang. Nghiên cứu diễn ra trong thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2018. Số liệu sau thu thập xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0

Kết quả: Tuổi trung bình là 55 tuổi, nam giới chiếm 80,9%; triệu chứng thường gặp là ho (kéo dài/ra máu/đau ngực/khó thở/sốt/khan) 40/94 (chiếm 42,6%); đau ngực (26/94, chiếm 27,7%); hạch cổ (5/94, chiếm 5,3%) với thời gian xuất hiện triệu chứng sớm nhất đến khi chẩn đoán là 1 tuần và lâu nhất là 3 tháng. Phân loại TNM như sau: T4 (33%); T2 (28,7%); T3 (21,3%) và T1 (17%); N3 (44,6%); N2 (30,9%); N0 (16%); N1 (8,5%). Khối u thường xuất hiện ở thùy trên phổi (29,8% bên trái và 25,5% bên phải) với kích thước trung bình là 41,45 ± 23,18 (mm) kèm hạch trung thất đối bên và thượng đòn chiếm tỷ lệ lớn với 40,5%; sau đó là hạch rốn phổi (34%).

Từ khóa: Ung thư phổi không tế bào nhỏ.

113
Đầu trang
Tải