ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VÔ SINH BẰNG KỸ THUẬT BƠM TINH TRÙNG VÀO BUỒNG TỬ CUNG IUI TẠI BỆNH VIỆN 19-8

Tác giả: KHỔNG THỊ VÂN

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhận xét hiệu quả điều trị vô sinh bằng phương pháp lọc rửa và bơm tinh trùng vào buồng tử cung IUI và Khảo sátmột số yếu tố liên quan đến tỉ lệ có thai lâm sàng của phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung tại Khoa Sản Bệnh viện 19-8, Bộ Công an từ tháng 10/2020.

Đối tượng nghiên cứu: 25 cặp vợ chồng trải qua 30 chu kì có chỉ định bơm IUI tại khoa Snar BV 19-8 BCA thỏa mã tiêu chuẩn lựa chọn.

Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu cắt ngang.

Kết quả: Kết quả thai sinh hóa: 23,33% (7/30), thai lâm sàng: 16,67% (5/30). Không có trường hợp nào thai ngoài tử cung. Trong 5 trường hợp thai lâm sàng thì có 1 trường hợp song thai chiếm 25%, không có trường hợp nào thai lưu. Tỉ lệ có thai giảm dần theo tuổi nhưng không có ý nghĩa thống kê và không có trường hợp nào có thai sau 40 tuổi. Nguyên nhân vô sinh: Tỉ lệ có thai cao nhất ở nhóm không rõ nguyên nhân 33,3%, sau đó rối loạn phóng noãn 20% và tinh trùng yếu 16,67%, không có trường hợp nào có thai ở nhóm bán tắc vòi trứng. Tỉ lệ có thai theo số năm vô sinh: 1-3 năm: 29,4%, > 3 năm: 0%, p = 0,032. Tổng số tinh trùng di động trước lọc càng cao thì tỉ lệ có thai lâm sàng càng cao: < 20 triệu: 10%: 20-40 triệu: 6,7%; > 40 triệu: 60%, p = 0,039. Mật độ tinh trùng sau lọc thấp nhất có thai là 14 triệu và mật độ càng cao thì tỉ lệ thai lâm sàng càng cao: < 14 triệu/ml: 0%: ≥ 14 triệu/ml: 27,8%; p = 0,046. Để thu được tỉ lệ có thai cao nên phối hợp kích trứng và tốt nhất nên đạt 2-5 nang, niêm mạc tử cung ít nhất 8 mm và không bị ứ dịch, kĩ thuật bơm dễ dàng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

SO-36.-THANG-11.-2021.Tr149.-Bai-33
Đầu trang
Tải