ÐẶC ÐIỂM LÂM SÀNG LỖ THÔNG MŨI – MIỆNG TRÊN BỆNH NHÂN KHE HỞ MÔI – VÒM MIỆNG ÐƯỢC PHẪU THUẬT BẰNG VẠT NIÊM MẠC MÀNG XƯƠNG

Tác giả: PHẠM THANH SƠN1, LÊ NGỌC TUYẾN2, HOÀNG THỊ HƯƠNG2

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng lỗ thông mũi-miệng trên bệnh nhân khe hở môi-vòm miệng được điều trị bằng vạt niêm mạc màng xương tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội từ tháng 6/ 2019 đến tháng 9/2020.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh trên 33 bệnh nhân có lỗ thông mũi-miệng trên bệnh nhân khe hở môi-vòm miệng được điều trị bằng vạt niêm mạc màng xương tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội. Các đối tượng được khám lâm sàng trước phẫu thuật.

Kết quả: 33 bệnh nhân từ 2 đến 26 tuổi, trung bình 13,88 ± 4,93; chủ yếu là các bệnh nhân trong độ tuổi nắn chỉnh răng (trên 12 tuổi: 20/33 bệnh nhân). 100% bệnh nhân đều có mắc dị tật KHMVM toàn bộ 1 bên hoặc hai bên. Các lỗ thông mũi miệng xuất hiện ngay sau phẫu thuật tạo hình môi vòm miệng thì đầu (69,7%); xuất hiện sau khi được can thiệp nong rộng cung hàm bằng chỉnh nha (30,3%). LTMM hầu hết là ở vị trí mũi – xương ổ răng phía môi tức vị trí có khe hở cung hàm (90,9%). LTMM được chọn để đóng bằng vạt niêm mạc màng xương chủ yếu có kích thước nhỏ ≤ 5mm, mô tại chỗ mềm mại, không có viêm nhiễm, không có sẹo xơ cứng. 100% LTMM đều gây trào ngược lên mũi khi ăn uống; hầu hết các lỗ thông này không gây ảnh hưởng đến phát âm (31/33 bệnh nhân).

Từ khóa: Lỗ thông mũi miệng, khe hở môi vòm miệng, phẫu thuật vạt niêm mạc màng xương.

SO-14.T2.2021.TR180.BAI-40
Đầu trang
Tải