ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA HÀO CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM – VẬN ĐỘNG Ở BỆNH NHI SAU VIÊM NÃO CẤP DO VI RÚT HERPES SIMPLEX
Tác giả: PHẠM NGỌC THỦY, ĐẶNG MINH HẰNG, NGUYỄN VĂN THẮNG
TÓM TẮT
Mô tả một số đặc điểm lâm sàng theo y học cổ truyền ở các bệnh nhi sau viêm não cấp do vi rút Herpes simplex (HSV). Đánh giá tác dụng của hào châm trong phục hồi chức năng tâm – vận động ở bệnh nhi dưới 6 tuổi sau viêm não cấp do HSV. Nhận xét một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mở, có đối chứng, so sánh trước và sau điều trị. Nhóm nghiên cứu sau điều trị, các triệu chứng đều có xu hướng giảm ở cả hai nhóm thể bệnh: Thể âm hư, số bệnh nhi có triệu chứng miệng họng khô, đại tiện táo, sắc mặt đỏ hoặc hồng, da tương đối khô, sốt hâm hấp, tiểu tiện ít, vàng sẫm, chỉ vân tay màu tía…giảm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Thể âm huyết hư sinh phong, số bệnh nhi có triệu chứng mất ngủ, quấy khóc la hét, mạch tế sác,… giảm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Nhóm chứng: Ở thể bệnh âm hư, sau điều trị các triệu chứng miệng họng khô, đại tiện táo, sốt hâm hấp ≤ 380C, da tương đối khô, tiểu tiện ít có xu hướng giảm, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Ở thể bệnh âm huyết hư sinh phong, các triệu chứng hầu như không có sự cải thiện, không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Hào châm có hiệu quả trong phục hồi chức năng tâm thần – vận động cho bệnh nhi viêm não Herpes simplex sau giai đoạn cấp. Nhóm nghiên cứu tình trạng rối loạn ý thức so với nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,05. Chức năng vận đông trở về bình thường ở nhóm nghiên cứu là 11,3%, nhóm chứng không có bệnh nhi nào, p > 0,05. Ổn định trương lực cơ, giảm độ co cứng qua đánh giá thang điểm Ashworth, p < 0,05. Hào châm có tác dụng phục hồi liệt vận động theo thang Henry ở bệnh nhi viêm não sau giai đoạn cấp do HSV, p < 0,05. Tăng chỉ số phát triển theo Test Denver II ở cả 4 khu vực vận động thô, vận động tinh tế, ngôn ngữ, cá nhân xã hội sau điều trị ở cả hai nhóm p < 0,05. Sự cải thiện vận động thô ở nhóm nghiên cứu tốt hơn nhóm chứng với p < 0,05. Khả năng phục hồi liệt vận động ở thể âm hư có xu hướng tốt hơn thể âm huyết hư sinh phong ở cả hai nhóm. Sau điều trị, nhóm nghiên cứu không còn bệnh nhi nào liệt ở mức độ nặng, có 21 bệnh nhi chuyển từ độ IV sang độ I, có 20 bệnh nhi chuyển từ độ III xuống độ I, có 6 bệnh nhi khỏi liệt. Nhóm chứng còn 2 bệnh nhi độ nặng, tỷ lệ 6,7%, có 9 bệnh nhi độ IV chuyển sang độ I, có 6 bệnh nhi độ III chuyển sang độ II, không bệnh nhi khỏi liệt. Mức dịch chuyển độ liệt của nhóm nghiên cứu nhiều hơn nhóm chứng, có ý nghĩa thống kê p < 0,05. Đánh giá chung khi bệnh nhi ra viện: Nhóm nghiên cứu khỏi bệnh 11,3%, di chứng nhẹ 77,4%, di chứng vừa 11,3%. Nhóm chứng di chứng nhẹ 36,7%, di chứng vừa 33,3%. Còn di chứng nặng 30%, không bệnh nhi khỏi bệnh. Xác định được bốn yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phục hồi liệt vận động. Bệnh nhi nhỏ tuổi kết quả phục hồi tốt hơn. Thời gian từ khi mắc bệnh đến khi được điều trị càng ngắn kết quả điều trị càng cao. Nhóm mắc bệnh dưới 35 ngày có 11,3% bệnh nhi khỏi liệt, nhóm trên 35 ngày không bệnh nhi nào khỏi liệt. Về thể bệnh theo y học cổ truyền: Bệnh nhi thể âm hư cho kết quả tốt hơn thể âm huyết hư sinh phong. Sau điều trị, thể âm hư có 11,3% khỏi liệt, thể huyết hư sinh phong không bệnh nhi nào khỏi bệnh. Tổn thương não trên cộng hưởng từ, gặp nhiều nhất tổn thương ở thuỳ thái dương (73,3%). Vị trí tổn thương trên não càng đa dạng kết quả điều trị càng kém. Phục hồi liệt tốt nhất ở bệnh nhi tổn thương não một vị trí, có sáu bệnh nhi (11,3%) khỏi liệt. Qua phân tích hồi qui logistis đa biến tổng quát điểm số phân loại sức cơ (theo Henry). Thay đổi kết quả điều trị ở sức cơ theo các biến số độc lập được khảo sát khoảng 93%.
Từ khoá: Hào châm, di chứng viêm não do HSV.
62
Đầu trang