ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA CÁC THAI PHỤ ĐIỀU TRỊ DỌA ĐẺ NON BẰNG ATOSIBAN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tác giả: PHẠM MINH GIANG, ĐÀO THỊ HOA, TRẦN THỊ TÚ ANH, VŨ HỒNG HẠNH, NGUYỄN THỊ VÂN ANH, NGUYỄN THỊ NGỌC MAI, TRẦN DANH CƯỜNG
TÓM TẮT
Hiện nay tỷ lệ đẻ non gia tăng nhanh và để lại hậu quả nghiêm trọng về sau cho trẻ cũng như gia đình và xã hội. Nhiều loại thuốc được lựa chọn để cắt cơn co tử cung nhưng vài năm trở lại đây thuốc đối kháng thụ thể oxytocin được xem là lựa chọn đầu tay đối với các nhà lâm sàng trong điều trị dọa đẻ non và trì hoãn chuyển dạ đẻ non.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các thai phụ được điều trị dọa đẻ non bằng atosiban tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các thai phụ được điều trị dọa đẻ non bằng atosiban tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 117 thai phụ mang thai, tuổi thai từ 24 đến 34 tuần được điều trị tại khoa Sản bệnh lý – Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tất cả các thai phụ đều dùng phác đồ sử dụng atosiban trong điều trị dọa đẻ non của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG).
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang. Thời gian nghiên cứu từ tháng 6/2019 đến tháng 12/2019.
Kết quả: Tỷ lệ có tiền sử đẻ non là 23,9%, có 48,7% thai phụ chửa song thai. Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là đau bụng, chiếm 86,3%. Thai phụ có CTC mở < 2 cm, chiếm 64,1%. Đa số các trường hợp có tần số cơn co tử cung ≤ 2, chiếm 91,4%. Chỉ số Bishop trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 5,8 ± 2,1 điểm. Chiều dài cổ tử cung trung bình là 12,2 ± 8,8 mm, gần 70% thai phụ có cổ tử cung ngắn < 15mm.
Kết luận: Đối tượng được điều trị dọa đẻ non bằng Atosiban trong nghiên cứu này là các thai phụ có CTC biến đổi nhiều thể hiện qua hơn 50% thai phụ có chỉ số Bishop ≥ 6 điểm và chiều dài CTC trung bình là 12mm, ngắn hơn nhiều so với các nghiên cứu về dọa đẻ non trước đó.
111
Đầu trang