ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU SAU PHẪU THUẬT NÂNG XOANG KÍN BẰNG THỦY LỰC CÓ GHÉP XƯƠNG VÀ CẤY GHÉP IMPLANT TỨC THÌ

Tác giả: TẠ VĂN THÁP, ĐÀM VĂN VIỆT , TRẦN THỊ MỸ HẠNH

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu sau phẫu thuật nâng xoang kín bằng thủy lực có ghép xương và cấy implant tức thì tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội và Bệnh viện Trường Đại học Y Hải Phòng.

Đối tượng và phương pháp: 27 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu với 33 vị trí mất răng hàm sau phía trên. Bệnh nhân được chỉ định nâng xoang kín bằng thủy lực sử dụng vật liệu ghép xương ghép và cấy ghép implant tức thì. Conebeam CT (CBCT) được sử dụng để đánh giá các thông số trước và ngay sau phẫu thuật.

Kết quả: Chiều cao trung bình implant trong xoang: 4,9 ± 1,0mm. Chiều cao xương ghép trong xoang trung bình hay chiều cao trung bình màng xoang được nâng lên là 7,7 ± 1,5mm. Có 69,7% tổng số implant đạt độ ổn định sơ khởi 35N/cm2 – 45Ncm2 ; 30,3% tổng số implant > 45 N/cm2 , (p < 0,05). Mật độ xương D2:100% đạt độ ổn định > 45N/cm2 , D3: 70,3% đạt 35 – 45N/cm2 , 29,6% đạt > 45N/cm2 , D4: 100% đạt 35 – 45N/cm2 , p < 0,05. Không ghi nhận tổn thương rách màng xoang trong phẫu thuật. Tại thời điểm 1 tuần sau tái khám, không ghi nhận tình trạng viêm nhiễm và đau đáng kể ở vùng phẫu thuật.

Kết luận: Nâng xoang kín bằng thủy lực là phương pháp an toàn, màng xoang có thể nâng lên trung bình tới 7,7 ± 1,5mm mà không ghi nhận biến chứng thủng màng xoang; mức độ đau, viêm trong giới hạn bình thường. Chiều cao và mật độ xương ban đầu là những yếu tố quyết định độ ổn định sơ khởi của implant.

Từ khóa: Nâng xoang kín bằng thủy lực, độ ổn định sơ khởi của implant, mật độ xương.

13
Đầu trang
Tải