KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ EBV-DNA HUYẾT TƯƠNG SAU ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG
Tác giả: PHẠM HUY TẦN, TRẦN HUY THỊNH, TRỊNH LÊ HUY, PHẠM THỊ BÍCH ĐÀO, NGUYỄN ĐÌNH PHÚC, TRẦN VÂN KHÁNH
TÓM TẮT
Ung thư vòm mũi họng là loại ung thư hay gặp nhất trong các ung thư vùng tai mũi họng và đứng hàng thứ 5 trong 10 loại ung thư phổ biến ở Việt Nam. Nồng độ EBV-DNA huyết tương có vai trò là yếu tố tiên lượng độc lập trong Ung thư vòm mũi họng. Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu: (1) Định lượng nồng độ EBV- DNA huyết tương sau điều trị hóa, xạ trị hoặc hóa xạ trị kết hợp của bệnh nhân Ung thư vòm mũi họng, (2) Tìm hiểu mối tương quan giữa nồng độ EBV- DNA huyết tương sau điều trị với mức độ đáp ứng điều trị của bệnh nhân Ung thư vòm mũi họng. Lựa chọn 119 bệnh nhân Ung thư vòm mũi họng, các bệnh nhân này đã được định lượng trước khi điều trị; Bệnh nhân sau đó được điều trị hóa, xạ trị hoặc hóa xạ trị kết hợp và được định lượng nồng độ EBV- DNA huyết tương sau điều trị bằng kỹ thuật realtime PCR; Đánh giá đáp ứng điều trị theo tiêu chuẩn của Recist. Kết quả cho thấy tỉ lệ EBV-DNA âm tính sau điều trị là 83,2%; 16,8% bệnh nhân có dương tính với EBV-DNA, trong đó số bản copies trung bình là 5,16 × 104 copies/ml. Nồng độ EBVDNA huyết tương sau điều trị có mối tương quan với mức độ đáp ứng, OR=14,0 (95% CI 1,04-187,95), p <0,01. Kết quả trên cho thấy phần lớn bệnh nhân Ung thư vòm mũi họng có nồng độ EBV-DNA trở về âm tính sau điều trị và nồng độ EBV DNA huyết tương sau điều trị có liên quan với mức độ đáp ứng.
Từ khóa: EBV- DNA, Ung thư vòm mũi họng
27-1
Đầu trang