KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH CỦA PHỤ NỮ HUYỆN THANH LIÊM, HÀ NAM NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Tác giả: NGUYỄN THỊ HỒNG XÂM, TRẦN HOA MAI

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Mất cân bằng giới tính khi sinh xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ XXI – một hiện tượng nhân khẩu học thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia nghiên cứu và cả xã hội. Theo số liệu của tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 111,5 bé trai/100 bé gái[1],3]. Nếu không có sự can thiệp hiệu quả để giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ gây hệ luỵ nhiều mặt đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và các tỉnh/thành phố nói riêng; sau 20 năm nữa Việt Nam sẽ có khoảng 4,3 triệu nam thanh niên ít có cơ hội lấy được vợ trong nước và dù có thực hiện tốt việc can thiệp để giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh thì con số đó cũng còn tới 2,3 triệu nam giới [4]. Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh của phụ nữ huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam được thực hiện.

Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ và phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh của đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2021 tại huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên 320 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 18 – 49 tuổi. Nghiên cứu sử dụng công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi cấu trúc xây dựng sẵn dựa theo mục tiêu nghiên cứu với nội dung về mất cân bằng giới tính khi sinh. Các dữ liệu được nhập liệu và quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý và phân tích bằng phần mềm Stata phiên bản 14.0.

Kết quả: 78,4% ĐTNC được đánh giá đạt (từ4/7 đến 7/7) tiêu chí kiến thức về mất cân bằng giới tính khi sinh; 59,1% ĐTNC được đánh giá đạt (từ 4/6 – đến 6/6) tiêu chí thái độ về mất cân bằng giới tính khi sinh. 78,4% ĐTNC được đánh giá đạt (6/6) tiêu chí thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh.

ĐTNC ở nhóm chỉ có con gái được đánh giá đạt về thực hành thấp hơn nhiều so với nhóm đã có cả con trai và con gái (OR = 0,13; 95%CI: 0,13 – 0,82; p < 0,05). ĐTNC ở nhóm không có áp lực về giới tính con được đánh giá đạt về thực hành cao hơn nhiều so với nhóm có áp lực (OR = 1,45; 95%CI: 1,03 – 2,87; p < 0,05).

ĐTNC ở nhóm được đánh giá có thái độ chưa đạt về MCBGTKS thì đạt tiêu chí về thực hành thấp hơn nhiều so với nhóm ĐTNC được đánh giá có thái độ đạt về MCBGTKS (OR = 0,35; 95%CI: 0,17 – 0,66; p < 0,05).

Từ khóa: Mất cân bằng giới tính khi sinh, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

146-4
Đầu trang
Tải