NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG CỦA ĐIỆN TÂM ĐỒ VÀ SIÊU ÂM TIM TRONG CHẨN ĐOÁN VỊ TRÍ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2014-2016
Tác giả: NGUYỄN THỊ THANH TRUNG, VŨ THỊ PHƯƠNG LAN
TÓM TẮT
Mục đích đánh giá giá trị của điện tâm đồ (ĐTĐ) và siêu âm tim trong chẩn đoán vị trí tổn thương động mạch vành ( ĐMV) so với chụp ĐMV qua da ở bệnh nhân (BN) nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp. Đối tượng và phương pháp: 171 BN NMCT cấp được làm ĐTĐ, siêu âm tim tại BVĐK tỉnh Thái Bình, sau đó chuyển đến Viện Tim Hà Nội để chụp và can thiệp ĐMV từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 4 năm 2016. Kết quả: Trên siêu âm kiểu rối loạn không vận động do tổn thương ĐMV trái (58,8%), LCx (29,4%); kiểu giảm vận động do tổn thương ĐMV trái (36,9%), ĐMV phải là 26,2%, cả ba nhánh 28,86%. Trên điện tâm đồ, tổn thương nhánh ĐMV trái (35,1%), ĐMV phải (18,7%). Chụp ĐMV tổn thương trên 2 nhánh (43,3%), ĐM liên thất trước (LTTr) (34,5%), ĐMV phải (17,5%), ĐM mũ (3,5%), thân chung (1,2%). Siêu tim có độ nhạy cao hơn so với ĐTĐ do tổn thương ĐM LTTr ( 69,5% so với 59,3%), 2 nhánh trở lên (27% so với 13,5%), ĐM mũ siêu âm tim không phát hiện được trường hợp nào. Khi phân tích đường cong ROC cho thấy siêu âm có giá trị chẩn đoán hơn ĐTĐ đối với tổn thương ĐM LTTr (AUC=82,3%; p<0,01) và (AUC=73,4%; p<0,01), ĐMV phải tương đương (AUC=74,2%; p<0,01) và (AUC=75,2%; p<0,01) và giá trị chẩn đoán của 2 xét nghiệm này trong chẩn đoán tổn thương ĐMV liên thất trước và ĐMV phải ở mức tốt,với ĐM mũ thì siêu âm có giá trị chẩn đoán tương đương với ĐTĐ (AUC = 58,0%; p<0,05) và (AUC = 52,1; p<0,05) và 2 xét nghiệm này có giá trị trong chẩn đoán tổn thương động mạch mũ ở mức độ trung bình. Kết luận: Chụp ĐMV là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán tổn thương ĐMV, giúp chẩn đoán chính xác nhánh ĐMV thủ phạm ở BN NMCT cấp. Siêu âm tim có khả năng dự đoán nhánh ĐMV thủ phạm tốt hơn so với ĐTĐ.
Từ khóa: Điện tâm đồ, siêu âm tim, động mạch vành
52-56-Trung
Đầu trang