NGHIÊN CỨU XỬ TRÍ SẢN KHOA Ở NHỮNG SẢN PHỤ SINH CON TỪ 3500 GRAM TRỞ LÊN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

Tác giả: NGUYỄN NGỌC MINH, TRƯƠNG QUANG VINH, HOÀNG THU HUYỀN

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm ở những sản phụ sinh con từ 3500 gam và nhận xét kết quả xử trí sản khoa ở những sản phụ được nghiên cứu.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 400 sản phụ sinh con từ 3500 gam trở lên tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.

Kết quả và bàn luận: Đa số sản phụ nằm trong nhóm tuổi 25-34 tuổi (chiếm 66,5%). Sản phụ sống ở thành thị (52%) nhiều hơn nông thôn, trình độ học vấn đại học, cao đẳng (72,75%) chiếm phần lớn. Có 29% sản phụ có tiền sử đẻ con ≥ 3500g. Tiền sử mắc đái tháo đường thai kì gặp nhiều nhất, chiếm 6,25%. Cân nặng trẻ sơ sinh trung bình là 3687 ± 201 gam (cao nhất: 4800 gam). Tỷ lệ sinh đường âm đạo (52,5%) và sinh mổ (47,5%) gần tương đương nhau. Tỷ lệ mổ đẻ tăng dần theo trọng lượng thai, p < 0,05. Chỉ định mổ đẻ chủ động vì thai to chiếm 36,4%, thai to kết hợp sẹo mổ cũ chiếm 42%. Chỉ định mổ cấp cứu vì đầu không lọt 21,4%. 28,6% sản phụ được làm nghiệm pháp lọt ngôi chỏm. Trong đó tỷ lệ đẻ đường âm đạo là 91,18%. Tai biến cho mẹ: 4,75% băng huyết sau sinh. Tỷ lệ viêm niêm mạc tử cung 0,25%. Tai biến cho con: 0,5% suy hô hấp.

Kết luận và khuyến nghị: Trong nhóm thai ≥ 4000 gam, khuyến cáo theo dõi sát và chỉ định mổ rộng ở nhóm đối tượng này. Trong nhóm con có trọng lượng 3500 – < 3700 gam, tỷ lệ đẻ đường âm đạo cao hơn mổ lấy thai. Những trường hợp này có thể cân nhắc theo dõi sát đẻ đường âm đạo và làm nghiệm pháp lọt ngôi chỏm để giảm tỷ lệ mổ lấy thai.

Từ khóa: Sản khoa, thai to.

113-1
Đầu trang
Tải