GIÁ TRỊ CA19-9 VÀ CEA TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT
Tác giả: PHẠM DUY TOÀN1 , PHAN MINH TRÍ1,2
TÓM TẮT
Ung thư đường mật chiếm 5-10% trong ung thư nguyên phát của hệ gan mật, sau ung thư tế bào gan nguyên phát. Trong khi đó, ung thư đường mật rốn gan là loại thường gặp nhất trong ung thư đường mật ngoài gan, chiếm khoảng 60%. CA19-9 và CEA là 2 trong số các chất chỉ điểm khối u có giá trị cao trong chẩn đoán. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong muốn tìm hiểu giá trị của CA19-9, CEA trong ung thư đường mật. Mục tiêu: (1) Đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của CA19-9 và CEA trong chẩn đoán ung thư đường mật. (2) Xác định mối liên quan của CA19-9, CEA với kích thước, độ xâm lấn, khả năng cắt u, di căn hạch, di căn xa, giai đoạn và độ biệt hóa của ung thư đường mật. Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, báo cáo hàng loạt ca. Những bệnh nhân nghi bị ung thư đường mật được thực hiện xét nghiệm CEA, CA 19-9 và phẫu thuật hoặc sinh thiết có kết quả giải phẫu bệnh từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2014 tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy Bệnh viện Chợ Rẫy Kết quả: Có 69 TH thỏa mãn điều kiện nghiên cứu được chọn. Độ tuổi trung bình: 55,35 ± 12,09. CA19-9 cao nhất là trên 50000U/ml, nhỏ nhất 2,67U/ml, trung bình là 7451,1U/ml, CEA lần lượt là 943,5ng/ml, 0,66ng/ml và 84,1ng/ml. Khi ngưỡng CEA: 5 ng/ml và CA19-9: 35 U/ml thì độ nhạy sẽ là 93,5% và độ đặc hiệu là 70,5%. Trong khi nếu ngưỡng CEA: 5 ng/ml và CA19-9: 100 U/ml thì độ nhạy giảm đi còn 86% tuy nhiên độ đặc hiệu tăng lên đến 91,2%. Kết luận: Độ nhạy của CA19-9 cao hơn CEA, tuy nhiên độ đặc hiệu thấp hơn CEA trong chẩn đoán ung thư đường mật. Nếu kết hợp cả hai xét nghiệm CA19-9 và CEA thì khả năng chẩn đoán ung thư đường mật sẽ tăng lên đáng kể.
Từ khóa: CA19-9, CEA, Ung thư đường mật
72
Đầu trang